Đến năm 1940 là năm tôi bắt đầu “đi” chợ Gò Công. Hồi đó tôi thường theo cha đến nhà cô ruột ở phía Nam chợ, rồi dần dần quen với những con đường trong chợ. Tôi nhớ như in dòng kinh Salicetti, nhớ hai bên bờ kè của nó và ba chiếc cầu trong nội thị. Tất cả những hình ảnh đó, qua gần một đời người, bây giờ đã đi vào cổ tích. Hồi ấy vàm kinh rộng, lòng kinh hẹp hơn bây giờ, hai bên bờ được kè đá xanh cho tới đoạn ngã ba Nhà Bà Phước. Ở đoạn kinh chính, bên bờ Nam có hàng rào bằng những trụ xi măng đúc cách khoảng, giữa các trụ chắn hai hàng “railles” sắt. Rào chừa ba khoảng: một khoảng gần vàm để người đi ghe từ dưới nước bước lên bến xe đò, một khoảng trước nhà Bà Lớn có nhiều bậc xuống cho ghe đậu và người lên bộ, rồi một khoảng trước Nhà Bà Phước. Hồi còn đi học, chúng tôi thường xuống những bậc ấy rửa chân cho mát.
Từ Nhà Bà Phước xuống tới Cầu Huyện, hai bên bờ kinh chỉ trồng cây ô môi tây. Quanh mùa, cây cho những trái dẹp màu nâu, bên trong có thứ mật ngọt quẹo, ăn vài ba trái đã thấy say say. Con đường chạy cặp bờ kinh phía Nam là đường Đốc Phủ Đức, từ dốc cầu Long Chiến qua chợ, qua Tháp Lãnh Binh Tấn rồi men theo kinh đến Bà Phước. Từ Nhà Bà Phước xuống Cầu Huyện là đường đá nhỏ, vốn là đường Đốc Phủ Đức nối dài, nhưng dân chợ thường gọi là đường Bờ Kinh Cầu Huyện. Về sau con đường này mang tên đường Tổng Đốc Phương, nay là đường Hai Bà Trưng. Ngay đầu cầu Phủ ngày trước, bên bờ Nam có một ngôi từ đường của dòng nội ông Đốc phủ Hải. Ngôi nhà do ông Thân Nguyễn Văn Bính, cháu gọi ông Phủ Hải bằng bác ruột, ở và thờ phụng. Đây được kể là ngôi nhà cổ nhất chợ Gò Công còn sót lại. Nhà xây bằng gạch, lợp ngói âm dương, có lớp thí gồm ba căn hai chái, nhà ngang phía sau hợp thành một khối khá bề thế. Những bàn thờ, liễn đối trong nhà còn đầy đủ, nhìn vô là thấy cả một nếp nhà xưa. Sau này ngôi nhà còn được dùng làm bối cảnh quay bộ phim “Con nhà nghèo”, dựa theo tác phẩm của Hồ Biểu Chánh.
Từ ngôi nhà ấy đi xuống tới nhà cao cẳng của ông Ba Khoa thì hết nhà ở. Đoạn kế tiếp là hai dải đất hai bên, cỏ cây mọc cao thấp bên những nấm mồ, một bãi tha ma xưa thật xưa. Tôi còn nhớ nhiều đêm cha chở tôi về ngang đoạn đường hiu quạnh ấy. Dù ngồi giữa hai tay của cha, tôi vẫn sợ, nhất là mùa mưa. Hai bên cóc nhái kêu từng đợt, nhạc sành trổi lên, bên kia kinh đom đóm lập lòe trên cành bần, phía xa là đám lá dừa nước ban đêm càng thấy rậm. Đến gần những năm cuối thập niên 1950, tôi đi ngang đoạn này, cảnh vẫn chưa đổi thay bao nhiêu. Đom đóm mùa thu vẫn còn lập lòe. Tôi chợt nhớ câu ca dao mẹ thường ru các em tôi:
“Bần gie đóm đậu sáng ngời, Lỡ duyên tại bậu trách trời được sao!”
Bây giờ nghĩ lại, có khi những đứa nhỏ sống ở khu này, thấy trên truyền hình có chương trình “Đom đóm học đường”, lại phải hỏi mẹ: “Đom đóm là gì hở mẹ?”. Một con đom đóm nhỏ xíu thôi mà cũng có ngày trở thành thứ phải giải thích cho trẻ con biết. Cảnh vật thay đổi đôi khi đâu cần một trận động đất hay một cuộc di dời lớn. Chỉ cần những thứ từng sống cùng mình lần lượt biến mất là đủ.
Nhắc tới kinh Salicetti và ba chiếc cầu bắt qua kinh ở khu chợ Gò Công, tôi cứ tự hỏi không biết cảnh ấy có từng gợi cho viên công trình sư người Pháp nghĩ tới quê nhà của mình, nơi những thành phố cũng có sông và nhiều chiếc cầu bắc qua. Riêng tôi, cảnh con kinh ngày đó rất đẹp. Nước lớn, nước ròng vẫn trong, không rác rến. Ghe mui nhỏ vẫn qua dưới Cầu Quan, qua cầu Phủ, qua Cầu Huyện rồi trở lại, hoặc đi đâu thì tôi cũng chẳng biết. Nước cứ chảy qua cầu. Hình ảnh xưa cũng vậy, giống như nước chảy qua cầu. Gần bảy chục năm nhìn lại, con kinh và ba chiếc cầu sắt vẫn là những hình bóng cũ của riêng tôi.
Rồi tôi thử lần lại chợ Gò Công từ cái vàm đầu kinh. Ngày trước, bước lên khỏi vàm là trục chợ và trụ sở thôn Thuận Ngãi. Trên vàm bắt đầu là bến xe đò, rồi tới Tháp Lãnh Binh Tấn. Bến xe và ngọn tháp nằm trên nền chợ cũ. Xa hơn một chút là công sở mới có tầng lầu, gọi là Nhà việc làng Thành Phố. Nhà việc được cho là nằm trên nền cũ của trụ sở huyện lỵ Tân Hòa và thôn Thuận Ngãi. Sau Nhà việc chừng trăm thước là đình Thuận Ngãi xưa, được cất lại khá uy nghi vào những năm đầu thập niên 1930. Hai bên hông đình có bốn chữ Hán “Đình Thành Phố Thôn”. Tên đình có thể thay đổi, nhưng trong lòng đình vẫn còn sắc phong Thượng đẳng thần từ đời Tự Đức thứ năm. Sau và cách đình một con lộ ngày trước còn có một hồ nước khá lớn, dân gọi là hồ nước, nơi giữ nước mưa để dùng trong mùa khô hạn.
Đứng trên con đường trước trường Nữ nhìn qua kinh, tôi còn nhớ tòa nhà của ông bà Đốc phủ sứ Nguyễn Văn Hải và Huỳnh Thị Điệu. Tòa nhà nằm trên đường Đốc Phủ Đức, nay là đường Hai Bà Trưng, có kiến trúc bên ngoài kết hợp kiểu Pháp với kiểu ta khá hài hòa, bên trong vừa là nơi ở vừa có chỗ thờ phụng. Nhà được cất xong năm Kỷ Dậu 1909 và được kể là một trong những ngôi nhà cách tân đầu tiên ở Gò Công thời Pháp thuộc. Ông Đốc phủ Hải từng được đưa sang Pháp du học, lại là con rể của bà Huyện Huỳnh Đình Nguơn, tức bà Dương Thị Hương, con gái bà Trần Thị Sanh, người còn được gọi là Bà Hầu của Trương Công Định. Một ngôi nhà đứng bên dòng kinh mà phía sau nó lại nối với biết bao nhiêu tên tuổi của đất Gò Công.
Năm 1942, tôi đi học ở trường Quan, tức trường Nam tỉnh lỵ, tên tiếng Pháp là “École Primaire des Garçons de Go Cong”. Ngôi trường trước kia từng là thành lính tập của Tây. Khi tôi vào học, trường đã có từ lâu, bao thế hệ học trò đã đi qua, đến đời ông Huỳnh Văn Hai làm đốc học thứ 20. Đa số học trò chúng tôi phải qua Cầu Quan cả đi lẫn về, nên từ năm 1942 tôi bắt đầu quen với chiếc cầu sắt này. Cầu có dáng giống Cầu Huyện nhưng hơi rộng và dài hơn. Xe cộ lúc đó quá ít, thường nhường cho học sinh nam nữ qua cầu. Tôi là học trò nhỏ, đi trên cầu mà có cảm giác mình như lọt thỏm trong một đường hầm.
Nhưng thời gian ở Cầu Quan của tôi không kéo dài lâu. Đầu năm 1943, người ta đắp con đập qua kinh ở hai đầu đường Trần Hưng Đạo ngày nay, giữa lòng kinh đặt cống để nối đường cho xe chạy. Từ đó xe cộ không còn qua Cầu Quan nữa. Chúng tôi lại thấy vui vì có đường mới đi học. Rồi người ta bắt đầu dỡ cầu. Dân chúng đồn Tây dỡ cầu bán sắt vì thua trận bên nước nhà, nhưng theo lời kể lại thì không phải vậy. Viên Chánh tham biện Tây cuối cùng là Ropion muốn sửa lại công trình của viên Chánh tham biện đầu tiên Guys, bằng cách nối liền trục lộ quan trọng Trần Hưng Đạo.
Đến cuối năm 1943, cống đã lắp xong. Kinh không còn là thủy đạo cần thiết nữa nên người ta đắp luôn đoạn Cầu Quan, biến chỗ ấy thành một hồ tắm. Bốn bề hồ được cẩn bậc đá sạn. Hồ tắm dài và rộng hơn nhiều hồ tắm xây dựng ở các tỉnh miền Nam và cả Sài Gòn thời đó. Người dân bắt đầu gọi hồ là Piscine, còn tên Trường Quan cũng dần bị quên, bắt đầu được gọi là Trường Nam Piscine. Hai phía của Piscine, con kinh bị đứt khúc nhưng nước vẫn lớn, vẫn ròng. Đoạn kinh bên chợ sau khoảng 15 năm thì thành đất, rồi cất trường học nghề và nhà cửa. Phía Đông cũng lâu lắm mới thành đất, sau khi cầu Tây Ban Nha trở thành đường mới khoảng mười năm trước thời điểm người viết ghi lại.
Piscine lúc đó đầy nước. Lâu lâu người ta thay nước một lần. Nước sông lấy lúc nước lớn, vừa đầy vừa trong, sạch, khi ngọt khi lợ tùy mùa. Thanh thiếu niên trong chợ bắt đầu xuống tắm và bơi. Học sinh trường Nam cũng xuống bơi, đùa giỡn. Học trò nhỏ có thể học bơi ở mé hồ, nhờ những bậc đá để bám tay. Sau năm 1945, người ta làm thêm một cây cầu ván thấp ngang qua Piscine, phía trước Bưu điện, để làm cầu nhảy. Học sinh và bạn bè leo lên cầu, ôm vật, xô nhau xuống nước. Vui thật là vui.
Tôi lúc đó không biết lội. Tôi học lội ở mé hồ, uống nước vài lần, có một lần hụt tay chìm xuống đáy. May sao vớ được bậc đá cuối, lần theo bậc mà trồi lên. Hú vía. Vậy mà cũng biết lội. Những chuyện như vậy hồi đó chỉ là chuyện vui của đám học trò. Không ai nghĩ một cái hồ tắm lại có ngày trở thành một phần ký ức của cả một thế hệ. Tôi tắm và đùa vui ở Piscine như thế cho đến năm 1949, khi rời trường lên Sài Gòn học tiếp trung học.
Năm 1955, tôi trở lại quê nhà và bắt đầu đi dạy ở trường làng. Mỗi khi đi ngang Piscine để vào văn phòng Ty Học chánh, tôi vẫn thấy các em học sinh, tức thế hệ thứ hai sau chúng tôi ngày trước, còn xuống tắm. Lúc đó thầy cũ của tôi, thầy Võ Văn Giáp, đang làm hiệu trưởng Trường Nam. Buổi trưa trước giờ học chừng nửa tiếng, thầy thường đạp xe đi vòng quanh trường. Gặp học sinh đổ xí ngầu thì thầy tịch thu xí ngầu, bắt đứa đang chơi lại phạt. Đặc biệt, thầy thường đi bộ từ văn phòng ra bờ Piscine. Nếu thấy học sinh bỏ quần áo trên mé rồi xuống tắm, thầy gom hết đem về.
Trống đánh vào học, mấy đứa nhỏ nhảy lên bờ thấy quần áo, tập vở mất hết thì xanh mặt chạy vô văn phòng hiệu trưởng, đứng xếp hàng chờ phạt. Thường phạt xong thì chờ thầy giáo tới lãnh về. Đến năm 1957, tôi về dạy lớp Nhất trường Nam. Chưa đầy một tuần, tôi đã được mời xuống văn phòng lãnh một tốp học trò “quý” vì tắm Piscine trước giờ học buổi chiều. Có lẽ thầy hiệu trưởng muốn nhắc ông thầy mới phải răn đe học trò. Dẫn các em về lớp, tôi lại nhớ mới mười năm trước chúng tôi cũng tắm như thế, chỉ có điều may là chưa lần nào bị lấy quần áo.
Tôi chỉ nhỏ nhẹ giải thích cho các em cái hại của chuyện tắm trước buổi học. Tắm vội, người mệt, bị vọp bẻ thì nguy hiểm, Piscine lại sâu. Còn chuyện tắm truồng, tôi phải nghiêm mặt rầy trước lớp: “Lớn tồng ngồng mà còn tắm truồng, bộ đây là dòng sông, con rạch ở quê nhà các em sao?”. Nói vậy thôi chớ trong bụng tôi cũng nhớ mình ngày trước đâu có khác gì.
Sau đó học trò không tái phạm nữa. Nhưng mỗi khi dạy xong bài, tôi thường ra hành lang lớp trên lầu nhìn xuống Piscine. Ôi, Piscine coi mênh mông mà hiền hòa. Suốt cuộc tồn tại, cái hồ đã giúp học trò bơi lội, đùa vui, và với tôi nó còn giữ lại cả một đoạn tuổi học trò. Đứng trên lầu đôi lần, tôi không còn thấy Piscine nữa mà tưởng tượng trước mặt là con kinh ngày cũ chạy từ vàm; bên trái là Cầu Quan, cái “đường hầm” ngày nhỏ tôi từng đi qua; phía Đông xa xa là Cầu Phủ; còn Cầu Huyện là chiếc cầu đầu đời của tôi. Tôi nhớ một buổi sáng buồn mùa xuân năm 1948, những ván lót còn ngún khói rơi xuống dòng kinh. Một cảnh đã qua mấy chục năm mà chỉ cần đứng bên hồ, nó lại trở về.
Suốt năm năm như thế, tôi đứng ở hành lang lớp học trên lầu nhìn ra Piscine. Khi ấy tôi đang dạy ở trường Nam Gò Công, còn gọi là trường Nam Piscine. Tôi không từng học ở trường Quan. Tôi chỉ từng qua Cầu Quan để học trường Quan. Chính vì vậy mà trong trí nhớ của tôi, “Trường Quan” và Cầu Quan gần như dính với nhau thành một.
Rồi khi nhìn lại khu chợ cũ, tôi lại nhớ tới một chuyện xảy ra từ rất lâu trước thời tôi đi học. Năm 1864, quân Pháp đem thi thể Trương Công Định phơi ở nhà lồng chợ. Nhưng nhà lồng chợ lúc ấy nằm ở đâu? Theo những dữ liệu được ghi lại, đó là chợ thôn Thuận Ngãi, nằm trên bờ Rạch Cửa Khâu, khu vực nay tương ứng với Phòng Thông tin, tòa nhà bác sĩ Trương Văn Huân và khu bến Bạch Đằng. Sau này chợ mới được xây ở bên kia con kinh lấp, tức khu vực đường Trương Định ngày nay. Chợ được cất xong năm Bính Thìn 1916 và khai thị vào tháng Giêng năm Đinh Tỵ 1917.
Nơi phơi thây Trương Công Định, về sau gần đến năm 1880, quân Pháp cho xây một tháp kỷ niệm Huỳnh Công Tấn. Ngọn tháp tồn tại hơn 65 năm. Trên bia ghi công trạng của Lãnh binh Huỳnh Công Tấn, người được phía Pháp phong Đệ ngũ đẳng Bắc đẩu bội tinh và ca ngợi là “Công bộc trung thành của nước Pháp”. Tấm bia khi ấy đứng nhìn ra đường, nay là đường Hai Bà Trưng, và nhìn ngay về phía Nhà việc làng Thành Phố.
Nhưng đến tháng 9 năm 1945, ngọn tháp ấy bị nhân dân đập phá. Đầu tiên là những trụ treo lòi tói sắt bốn bề, rồi tới trụ đỉnh, sau đó là thân tháp. Khi phá tới giữa lòng tháp, người ta lôi ra một cái hộp đựng gươm lệnh, quân phục, mũ hàm lãnh binh của Huỳnh Công Tấn. Có người lấy thanh gươm khều áo quần, mũ mão của ông đưa lên cho dân chúng xung quanh xem. Gió thoảng qua, những biểu tượng từng đại diện cho quyền uy ấy tơi tả rơi xuống, rồi chẳng còn gì nữa.
Nhìn lại chợ Gò Công, tôi thấy có những thứ thay đổi rất nhanh mà lúc đang sống trong đó mình đâu có để ý. Năm 1909 có một ngôi nhà mới mang kiến trúc Pháp – ta. Những năm đầu thập niên 1930, đình Thuận Ngãi được cất lại. Năm 1940, tôi bắt đầu đi chợ và nhớ dòng kinh Salicetti với ba chiếc cầu. Năm 1942, tôi đi học và bắt đầu qua Cầu Quan. Đầu năm 1943, người ta đắp đập, đặt cống và không còn dùng Cầu Quan cho xe cộ. Cuối năm 1943, Piscine hình thành. Sau năm 1945, có thêm cầu ván làm cầu nhảy. Năm 1948, tôi còn nhớ buổi sáng những ván cầu cháy rơi xuống dòng kinh. Năm 1949, tôi rời Gò Công lên Sài Gòn. Năm 1955, tôi trở lại làm thầy giáo. Năm 1957, tôi đứng trước đám học trò tắm Piscine mà nhớ chính mình mười năm trước.
Rồi những con người ấy lớn lên, những cây cầu ấy mất đi, con kinh bị lấp từng đoạn, Piscine cũng thành chuyện cũ. Nhưng lạ là trí nhớ không chịu đi theo những thứ đã mất. Chỉ cần nghe ai nhắc một cái tên — Cầu Quan, Cầu Phủ, Cầu Huyện, kinh Salicetti, Piscine — là cả một chợ Gò Công xưa lại hiện ra.
Có lẽ vì vậy mà người ta cứ phải kể chuyện cũ. Không phải để bắt thời gian quay trở lại, vì chuyện đó đâu làm được. Chỉ là nếu không kể, một ngày nào đó người trẻ đứng trên con đường mới, nhìn cảnh vật mới, sẽ chẳng còn biết dưới chân mình ngày trước từng có một dòng kinh, từng có ba cây cầu sắt, từng có một cái hồ tắm mà bao nhiêu thế hệ học trò đã xuống đó bơi lội, đùa vui.
Nước ngày trước chảy qua cầu. Cầu rồi mất. Kinh rồi lấp. Người cũng lần lượt đi qua. Nhưng một dòng nước khi đã chảy qua thì vẫn để lại dấu trong ký ức. Và có lẽ, với người từng sống ở chợ Gò Công ngày ấy, kinh Salicetti cùng ba chiếc cầu sắt không chỉ là một phần của cảnh cũ. Nó là một phần của chính cuộc đời mình.

Nguồn: Tổng hợp.

Leave a Reply