Nói tới Gò Công, ai ai cũng từng nghe địa danh Vàm Láng, nhưng nguồn gốc hai chữ này thì không phải ai cũng biết rõ. Theo những người cố cựu ở Gò Công, Vàm Láng là nơi con rạch Cần Lộc ăn thông ra biển. Phía ngoài con rạch là một vùng nước rộng và sâu, dân gian gọi là “vàm họng”. Chữ “vàm” vốn là một từ cổ được dùng ở vùng Nam Bộ, được học giả Trương Vĩnh Ký ghi nhận có liên quan tới cách gọi của người Khmer. Gần cửa vàm ngày trước lại có một vùng nước rộng mênh mông, hai bên mọc đầy bần xen với dừa nước. Có chỗ có nước ngọt nên ban đêm heo rừng, nai thường tìm tới uống nước. Vùng ấy từng được gọi là “Láng Lộc”. Vì nằm gần Vàm Láng Lộc nên lâu ngày dân địa phương gọi tắt thành Vàm Láng.
Tên đất nhiều khi bắt đầu đơn giản như vậy. Một cách gọi của người dân, lâu ngày thành địa danh. Nhưng rồi địa danh lại giữ trong nó những câu chuyện mà nếu không hỏi người xưa, có khi mình chẳng bao giờ biết.
Chuyện cá Ông cứu người
Vàm Láng còn gắn với một giai thoại rất quan trọng trong đời sống tinh thần của cư dân vùng biển. Dân gian truyền rằng trong một chuyến lênh đênh trên biển, Nguyễn Ánh cùng đoàn người theo mình gặp lúc nguy nan và được cá Ông hộ tống, đưa vào bờ ở vùng Vàm Láng. Chuyện này về sau trở thành một phần của tín ngưỡng thờ cá Ông của ngư dân Nam Bộ.
Với người sống bằng nghề biển, cá Ông không phải chỉ là một loài cá lớn. Trong những lúc biển động, một con cá voi xuất hiện bên ghe có thể được xem như dấu hiệu cứu giúp. Bởi vậy, người đi biển lập lăng, lập miễu để thờ Ông, cầu mong chuyến ra khơi được bình an và khi trở về vẫn còn thấy đất liền.
Tương truyền sau khi lên ngôi, vua Gia Long sắc phong cá Ông là Nam Hải Đại Tướng Quân. Ở Vàm Láng cũng có Lăng Ông, nơi thờ cá Ông và lưu giữ những sắc phong liên quan tới tín ngưỡng này. Từ một câu chuyện trên biển, người dân dựng nên một nơi để thờ phụng. Rồi từ nơi thờ phụng ấy hình thành một lễ hội lớn của cả vùng.
Một đêm Nghinh Ông
Hằng năm, vào rằm tháng sáu âm lịch, những người làm nghề biển ở Vàm Láng cùng nhau tổ chức lễ Nghinh Ông. Ngày trước, lễ hội không chỉ dành cho những người đi biển mà còn thu hút rất đông dân chúng ở các vùng lân cận. Người ta đi ghe, đi tàu, đi xe đò, xe du lịch, tất cả tìm về Lăng Ông. Đường dẫn vào lăng đông nghẹt, còn dưới sông thì ghe thuyền chen nhau thành từng lớp.
Chiếc ghe chủ lễ được chọn lựa và trang hoàng rất công phu. Trên ghe có bàn hương án, cờ, hoa, ban nhạc lễ, đào kép và ban khánh tiết. Khoảng chín giờ đêm, ghe bắt đầu ra khơi để làm lễ nghinh Ông. Tới khi ghe chủ lễ trở về cửa Vàm Láng, hàng trăm chiếc ghe đánh cá lớn nhỏ từ những hướng khác nhau cùng chạy ra đón.
Ghe nào cũng treo cờ, kết hoa, đèn sáng từ mũi tới lái. Nhìn cả đoàn thuyền trên mặt nước, ánh sáng nối nhau kéo dài tới tận Lăng Ông. Hai bên bờ, dân chúng đốt pháo mừng. Tiếng ghe máy, tiếng người, tiếng nhạc lễ và ánh đèn hòa vào nhau, làm cả một khúc sông vốn bình thường trở nên náo nhiệt hẳn.
Khi sắc thần được đưa vào lăng, phần nghi lễ kết thúc để bước sang phần hội. Hát bội diễn suốt đêm, rồi còn có múa lân, ca hát, võ đài và những cuộc vui khác. Người đi xem đông tới mức cả một vùng ven sông như thức trắng trong đêm Nghinh Ông.
Vì sao người miền biển kính cá Ông?
Tôi nghĩ điều đáng chú ý nhất của lễ Nghinh Ông không nằm ở sự náo nhiệt. Nó nằm ở mối quan hệ giữa người đi biển với biển.
Đi biển là một nghề mà con người biết mình không thể hoàn toàn làm chủ được thiên nhiên. Hôm nay biển êm, ghe về đầy cá; ngày mai chỉ một trận gió lớn cũng có thể làm mọi thứ thay đổi. Người đi biển vì vậy cần một chỗ để gửi gắm niềm tin. Cá Ông trở thành một vị thần như vậy: một sinh vật của biển nhưng lại đứng về phía con người.
Cho nên lễ Nghinh Ông vừa là nghi lễ, vừa là ngày hội. Người ta thắp nhang, cầu bình an, tưởng nhớ những người đã khuất, nhưng rồi cũng gặp nhau, ăn uống, hát bội và vui chơi. Tín ngưỡng không tách khỏi đời sống. Nó nằm ngay trong đời sống.
Có lẽ đó cũng là lý do những lễ hội như Nghinh Ông tồn tại lâu đến vậy. Nó không chỉ nói về một câu chuyện xa xưa, mà còn nói về chính cuộc sống của những người hôm nay.
Vàm Láng hôm nay
Vàm Láng bây giờ chắc chắn đã khác nhiều so với ngày trước. Những con rạch, bãi bần và vùng nước từng được người xưa dùng để gọi tên địa phương đã thay đổi theo thời gian. Nhưng biển vẫn còn đó, ghe đánh cá vẫn ra vào, và người dân vùng biển vẫn giữ những tập tục gắn với nghề của mình.
Mỗi khi tới mùa Nghinh Ông, câu chuyện cũ lại được nhắc lại. Người ta lại về Lăng Ông, lại làm lễ, lại trang hoàng ghe thuyền và lại đưa một đoàn ghe ra biển.
Tôi thích những địa danh như Vàm Láng vì nếu chỉ nhìn trên bản đồ, đó chỉ là một cái tên. Nhưng chịu khó hỏi một người lớn tuổi, cái tên ấy lập tức mở ra rất nhiều chuyện: chuyện con rạch Cần Lộc, chuyện những bụi bần ngày trước, chuyện heo rừng xuống uống nước, chuyện cá Ông cứu người và chuyện hàng trăm chiếc ghe nối nhau trong một đêm lễ hội.
Địa danh vì vậy không chỉ là nơi chốn.
Nó là ký ức của một cộng đồng.
Vàm Láng có biển, có nghề cá, có Lăng Ông và có một lễ hội được truyền từ đời này sang đời khác. Những thứ đó ghép lại mới thành cái hồn của một vùng đất.
Và có lẽ, mỗi lần người ta ra khơi rồi trở về an toàn, họ lại hiểu thêm một chút vì sao người xưa kính biển đến vậy.

Nguồn: Tổng hợp.

Leave a Reply