Ông Ngô Tấn Đức, nhiều người quen gọi thân mật là ông Ba Đức, gần 80 tuổi, tóc đã bạc trắng nhưng đầu óc vẫn còn rất minh mẫn. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề mộc, ông được xem là một trong những nghệ nhân lão luyện, góp phần giữ cho nghề làm tủ thờ Gò Công — một nghề đã có mặt trên vùng đất này hơn 100 năm — tiếp tục sống tới hôm nay.
Cận Tết Giáp Ngọ 2014, chúng tôi tìm đến gặp ông, ngay sau khi ông được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động hạng III để ghi nhận những đóng góp trong hàng chục năm làm nghề. Với một người thợ đã đi qua hơn nửa đời người bên những chiếc tủ thờ, có lẽ đó không chỉ là một phần thưởng. Nó giống như một lời xác nhận rằng cái nghề ông đã mang theo suốt đời cũng là một phần của cuộc đời ông.
Nặng nợ với nghề
Tiếp chúng tôi, ông không đưa về những cửa hàng bàn ghế, tủ thờ mang tên Ba Đức nằm dọc ấp Ông Non, xã Tân Trung, thị xã Gò Công. Những nơi đó bây giờ đã khang trang, có cơ sở sản xuất, có cửa hàng, có những bộ bàn ghế và tủ thờ được làm ra để bán đi nhiều nơi.
Ông dẫn chúng tôi về căn nhà cũ của vợ chồng ông.
Ngôi nhà có vẻ cổ kính, cũ kỹ, nhưng lại là nơi ông gắn bó gần 50 năm, kể từ ngày lập gia đình, ra riêng rồi bắt đầu gầy dựng cuộc sống. Có những căn nhà nhìn không có gì đặc biệt, vậy mà người ta sống trong đó lâu tới mức mỗi góc tường, mỗi món đồ đều dính một chút ký ức. Với ông Ba Đức, căn nhà này có lẽ chứa gần hết câu chuyện lập thân, lập nghiệp của một đời người.
Ngay gian chính, ông đặt một chiếc tủ thờ trị giá 300 triệu đồng. Một phần để thờ tổ tiên, ông bà. Một phần, ông nói, cũng để giữ lại dấu ấn của cái nghề mà ông đã theo đuổi mấy chục năm.
Bên tách trà cuối năm, ông kể chuyện đời mình bằng giọng chậm rãi.
Hồi còn trẻ, gia đình nghèo nên ông sớm đi làm thuê, rồi học nghề mộc. Ông được chủ truyền nghề, sau đó còn được chủ thương mà gả con gái cho.
“Tôi được cha vợ truyền nghề đóng tủ, bàn ghế. Nghề này đầu tiên là do ông cố, ông Nguyễn Văn Non, tức ông Cả Non, gầy dựng. Năm 19 tuổi, tôi đã học được nghề đóng tủ.”
Nghề đến với ông từ lúc còn rất trẻ. Nhưng rồi cuộc đời lại rẽ sang một hướng khác.
Năm 1960, khi phong trào Đồng Khởi nổ ra, ông theo cách mạng. Ông nói một câu nghe rất thật, rất đúng với tính ông: “Tui ‘mê’ Việt Cộng quá nên đành xa vợ xa con”.
Năm 1968, trong trận Tết Mậu Thân, ông từng tham gia giải phóng Khám lớn Gò Công. Ông bị thương nặng nhưng vẫn chống chọi với thương tích và tiếp tục tham gia giải phóng nhiều tù nhân chính trị.
Những năm tháng tuổi trẻ của ông không chỉ có tiếng đục, tiếng bào và mùi gỗ.
Ông từng là thanh niên xung phong đi qua nhiều chiến trường, nhất là khu vực Ấp Bắc, Ba Dừa, Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy. Khi thì mở đường, khi tải thương, cứu thương; có lúc tham gia Tiểu đoàn tăng cường tiếp viện cho lực lượng thanh niên xung phong ở ngã ba Đồng Lộc.
Rồi chiến tranh đi qua.
Ông trở lại với nghề mà mình đã học từ năm 19 tuổi.
Nhưng trở về nghề không có nghĩa là mọi chuyện lập tức tốt đẹp.
Năm 1976, ông mua được một miếng đất 15 sào, dựng một cái chòi một mái bằng cây dầu gió, đước, rồi lợp lá chầm đốp. Nhà dột tới mức mưa xuống phải che mũ cho con ngủ.
Hai năm sau, năm 1978, sâu rầy hoành hành, mùa màng thất bát. Bà con không có tiền mua tủ nên nghề đóng tủ cũng phải ngưng một thời gian. Thợ trong làng lần lượt bỏ đi nơi khác kiếm sống, gần như chỉ còn ông và các con cố bám lại.
Cha con vừa làm, vừa truyền nghề cho nhau.
Mãi đến năm 1980 trở về sau, nghề mới dần ổn định và bắt đầu phát triển.
Nghe câu chuyện đó mới thấy, một làng nghề tồn tại được không phải chỉ nhờ những chiếc tủ đẹp. Nó còn nhờ những người chịu ở lại trong lúc khó khăn nhất.
Từ một chiếc tủ ba trụ đến chiếc tủ ba mươi trụ
Ngày nay, nhắc tới tủ thờ Gò Công, nhiều người nghĩ ngay đến Ba Đức.
Gia đình ông hiện có 15 cơ sở lớn nhỏ, trong đó 9 cơ sở lớn do các con ông đứng ra sản xuất và kinh doanh, tập trung ở ấp Ông Non. Con ông sau này còn mở thêm cửa hàng ở xã Tân Mỹ Chánh, thành phố Mỹ Tho.
Ông cũng cho biết đã đặt cơ sở mua gỗ bên Lào được 5 năm, nhờ vậy nguồn gỗ phục vụ sản xuất những bộ bàn ghế, tủ thờ chất lượng cao được chủ động hơn.
Nhưng điều đáng kể nhất có lẽ nằm ở chính những chiếc tủ.
Theo lời ông Ba Đức, đời ông cố và ông nội chỉ làm tủ thờ Gò Công loại thường với 3 trụ. Đến đời cha ông, tủ được nâng lên 5–7 trụ. Tới thời ông, số trụ tiếp tục tăng dần từ 7 lên 21 trụ.
Và cuối năm 2013, ông hoàn thành một chiếc tủ có tới 30 trụ.
Chiếc tủ này có giá 750 triệu đồng, được xem là một kỷ lục của ông lúc bấy giờ cả về số trụ lẫn giá bán. Ba mươi trụ đứng được chạm trổ tinh xảo, mặt tiền cẩn xà cừ, tất cả được làm theo đơn đặt hàng của một nữ trí thức ở huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghe qua thì thấy oai.
Nhưng lúc nhận đơn hàng, ông Ba Đức không oai chút nào.
Ông kể, khi khách xuống Gò Công xem hàng rồi đưa ra ý tưởng muốn có một chiếc tủ “không đụng hàng”, cha con ông vừa muốn nhận, vừa muốn từ chối. Làm một chiếc tủ quá khác biệt cũng có nghĩa là đem danh tiếng hơn 50 năm của mình ra đánh cược.
Hai năm trước đó, ông đã đóng được chiếc tủ 21 trụ trị giá 550 triệu đồng và đã thấy “hú hồn, hú vía”. Còn chiếc 30 trụ trị giá 750 triệu đồng thì áp lực còn lớn hơn. Khách đã đặt cọc 30%, nhưng nếu làm không đạt, người chịu rủi ro vẫn là người thợ.
Suốt 2 tháng ròng, ông và người con trai thứ Bảy gần như không rời khỏi xưởng. Hai cha con đứng canh thợ làm, chỉnh sửa từng chi tiết nhỏ.
Đó là một thứ áp lực rất khó giải thích bằng tiền.
Bởi với người làm nghề lâu năm, một sản phẩm không đạt không chỉ là mất một hợp đồng. Nó còn đụng tới cái tự ái nghề nghiệp.
Và có lẽ chính cái tự ái đó đã làm nên những người thợ giỏi.
Một chiếc tủ, một làng nghề
Nghề đóng tủ thờ Gò Công được khai sinh trên vùng đất này từ hơn 100 năm trước. Những chiếc tủ nổi tiếng bởi sử dụng gỗ quý, kiểu dáng đẹp, chạm trổ cầu kỳ và cẩn xà cừ tinh xảo.
Nhưng đằng sau một chiếc tủ thờ đẹp là rất nhiều năm tháng của người thợ.
Có người học nghề từ cha. Có người học từ cha vợ. Có người lớn lên bên tiếng đục, tiếng bào rồi thành thợ lúc nào không hay.
Với ông Ba Đức, câu chuyện còn dài hơn vậy. Ông học nghề từ năm 19 tuổi, rời nghề trong những năm chiến tranh, rồi trở về trong lúc làng nghề khó khăn nhất. Năm 1976 dựng chòi làm lại từ đầu. Năm 1978 gặp cảnh thất mùa, người làm nghề lần lượt bỏ đi. Từ năm 1980, nghề mới dần hồi phục. Rồi từ một cơ sở nhỏ, nghề được truyền lại cho các con, phát triển thành nhiều cơ sở.
Trong 5 năm, ông cho biết mình đã bán hơn 100 chiếc tủ thờ Gò Công cho người Việt ở Mỹ, Canada, Úc và Pháp. Có người về Việt Nam xem hàng, ký hợp đồng rồi sau đó tủ được chuyển lên Thành phố Hồ Chí Minh để gửi đi nước ngoài. Có hai Việt kiều ở Úc còn thường xuyên đặt hàng để bán lại cho người Việt bên đó.
Một cái tủ thờ từ Gò Công đi sang Mỹ, Canada, Úc hay Pháp, nghe thì có vẻ là chuyện buôn bán.
Nhưng nhìn kỹ hơn, nó còn là chuyện của một cộng đồng.
Người Việt đi xa quê thì vẫn có người muốn mang theo một góc quê nhà. Một chiếc tủ thờ vì vậy không chỉ để đặt lên đó bàn thờ tổ tiên. Nó còn mang theo một kiểu dáng, một nghề thủ công và ký ức của một vùng đất.
Đi dọc Quốc lộ 50 về hướng phà Mỹ Lợi, qua xã Tân Trung, người ta có thể nhìn thấy cổng chào ghi dòng chữ “Làng nghề truyền thống Tủ thờ Gò Công”. Phía sau cổng là hàng chục cửa hàng, cơ sở sản xuất và kinh doanh tủ thờ, bàn ghế bằng gỗ. Trong đó có những cơ sở mang tên Ba Đức 1, Ba Đức 2…
Nhìn những chiếc tủ được làm ra rồi chở đi nhiều nơi, ít ai nghĩ rằng đã có lúc cả làng nghề gần như vắng bóng thợ.
Cũng ít ai nghĩ rằng người đàn ông tóc bạc đang ngồi kể chuyện bên tách trà cuối năm từng có một căn chòi dột tới mức phải che mũ cho con ngủ.
Nghề truyền thống đôi khi sống được cũng nhờ những con người như vậy.
Không phải lúc nào họ cũng làm những chuyện lớn lao.
Có khi chỉ là lúc người khác bỏ đi thì mình ở lại. Lúc nghề khó thì mình ráng làm. Lúc con cái lớn lên thì truyền cho nó cái nghề của cha ông.
Rồi một ngày, nhìn lại, mới thấy mình không chỉ làm ra những chiếc tủ.
Mình đã giữ lại một phần của làng nghề.
Và ông Ba Đức, sau hơn 50 năm gắn bó với nghề, có lẽ chính là một trong những người như vậy.
Nguồn: Tổng hợp.

Leave a Reply