Có lần rong ruổi về Gò Công, tôi gặp những cụm mộ đá rất đẹp. Mỗi ngôi một kiểu, chạm trổ đủ thứ hoa văn, nhìn kỹ mới thấy người xưa đã bỏ không ít công sức vào những nơi mà ngày nay chúng ta thường chỉ nghĩ đơn giản là chỗ an nghỉ của người đã khuất.
Nhưng có một ngôi mộ làm tôi chú ý đặc biệt.
Nó nằm trong vườn chùa Long Thiền, nay thuộc ấp Hòa Bình, xã Bình Nghị, Gò Công Đông. Ngôi mộ có hình bát giác, đá được chạm khắc rất công phu, nhìn vừa giống một ngôi mộ, lại vừa có dáng dấp của một ngôi tháp Phật giáo.
Lúc đó tôi mới nhận ra một chuyện hơi thú vị: mồ mả cũng có thể là một thành tựu kiến trúc – mỹ thuật.
Từ sự tò mò đó, chúng tôi tìm hiểu thêm về các làng nghề đục đá ở Bửu Long, Biên Hòa, Núi Sập, Long Xuyên, rồi lần theo lời chỉ dẫn của những nghệ nhân lớn tuổi để tìm xem còn ngôi mộ nào có quy mô và trình độ chạm khắc tương tự hay không. Cuối cùng, ngôi mộ trong vườn chùa Long Thiền vẫn là một công trình gây ấn tượng rất riêng.
Ngôi mộ này của ai?
Theo lời thầy Nhật Tánh, viện chủ tổ đình Long Thiền, chùa được khai sơn vào khoảng thế kỷ XIX trên phần đất do bà Trần Thị Sanh hiến cúng. Bà Sanh là con thứ sáu trong một gia đình vọng tộc ở Gò Công và về sau được nhiều người biết tới với tư cách người vợ thứ của Bình Tây Đại nguyên soái Trương Công Định.
Năm 1864, Trương Định hy sinh. Bà Sanh tìm cách đưa thi hài chồng về an táng, dựng mộ và lập bia. Theo tư liệu, trên bia có khắc danh hiệu của ông. Việc ấy diễn ra ngay dưới sự kiểm soát của quân Pháp, nên về sau tấm bia bị đục phá, đặc biệt phần tên Trương Công Định gần như không còn nguyên vẹn.
Mãi tới năm 1930, một tấm bia mới được dựng lại. Theo lời truyền lại, người đứng ra thực hiện việc này là bà Dương Thị Hương, con gái riêng của bà Sanh và cũng là nghĩa nữ của Trương Định.
Câu chuyện ấy đã đủ làm người ta dừng lại một chút.
Nhưng ngôi mộ trong vườn chùa Long Thiền lại không phải mộ của bà Trần Thị Sanh.
Chủ nhân của nó là bà Dương Thị Hương, pháp danh Thanh Đăng, tự Diệu Quang.
Một ngôi mộ được xây khi người ta còn sống
Theo lời thuật lại của thầy Nhật Tánh, bà Dương Thị Hương là một Phật tử thuần thành và cũng là một người thường xuyên làm việc thiện, đóng góp cho chùa. Bà có quan hệ thân thiết với chùa Long Thiền nên đã xin lập mộ tại khu vườn chùa từ khi còn sống.
Những dòng chữ khắc trên mộ biểu cho biết bà thọ 90 tuổi, sinh năm 1844 và mất năm 1933.
Chi tiết này giúp xác định một điều khá quan trọng: công trình này được tạo tác từ trước năm 1933, tức thuộc những năm đầu thế kỷ XX.
Nói cách khác, đây không phải một ngôi mộ được xây vội sau khi người ta qua đời.
Nó là một công trình được chuẩn bị từ lúc chủ nhân còn sống.
Và có lẽ vì vậy mà người ta đã chăm chút cho nó nhiều đến thế.
Mộ hay tháp?
Đây mới là phần thú vị nhất.
Nhìn toàn thể, ngôi mộ có dạng bát giác. Phần trung tâm gồm năm bậc, phía trên có bình đầu và một trụ mộ biểu hình sen. Xung quanh là nền đàn, bao lơn và bích tường cũng được tổ chức theo dạng bát giác.
Nhìn qua thì giống một ngôi tháp.
Nhưng đây lại không hoàn toàn là tháp.
Trong kiến trúc Phật giáo, tháp có những quy thức riêng. Tháp dùng để chứa xá lợi hay chân thân của các vị tu hành có cấu trúc khác với mộ tháp dành cho người thế tục. Chính vì vậy, công trình ở Long Thiền không thể đơn giản gọi là một ngôi tháp.
Nó cũng không giống hoàn toàn một ngôi mộ truyền thống.
Thế là hai thứ gặp nhau.
Mộ và tháp.
Phần dưới vẫn giữ dáng của một khu mộ, trong khi phần trên mô phỏng cấu trúc tháp. Các chi tiết được tổ chức để hai hệ thức kiến trúc có thể đứng chung trong một công trình.
Người dân địa phương gọi nôm na là “mộ tán dù”.
Còn về mặt kiến trúc, các tác giả nghiên cứu công trình gọi nó là một dạng mộ tháp.
Tôi thích cách gọi này.
Bởi nhìn nó, người ta thật sự có cảm giác đây là một công trình đứng giữa hai thế giới: một bên là mộ phần, một bên là tháp Phật giáo.
Nhìn kỹ mới thấy người xưa chạm khắc rất nhiều
Điều làm ngôi mộ đặc biệt không chỉ nằm ở hình dáng.
Mà còn nằm ở cách người xưa trang trí nó.
Có những chi tiết được chạm thành hình khối ba chiều, như trụ mộ biểu, những quả mãng cầu, khế, măng cụt, phật thủ đặt ở các góc. Có những mảng phù điêu chạm nổi, lại có những phần văn tự được chạm chìm vào đá.
Nhìn gần hơn nữa mới thấy đề tài cũng rất phong phú.
Có dây lá hóa rồng. Có bộ đồ án bát bửu. Có trúc với chim, hoa với chim, tùng với hạc, tùng với lộc, sen với vịt…
Những hình ảnh đó không phải tự nhiên mà có.
Chúng thuộc về một kho tàng biểu tượng rất quen thuộc trong mỹ thuật truyền thống Đông Á và Việt Nam.
Điều đáng nói là người thợ không nhồi tất cả mọi thứ vào một chỗ. Các mảng chạm khắc được sắp xếp khá cân đối, xen kẽ giữa phù điêu và văn tự. Nhờ vậy, dù có rất nhiều chi tiết, tổng thể vẫn không tạo cảm giác quá nặng nề.
Đây là chỗ tôi thấy người xưa làm rất khéo.
Nhiều chi tiết nhưng không rối.
Cầu kỳ nhưng vẫn có khoảng thở.
Một ngôi mộ cũng kể chuyện về thời đại
Nếu chỉ nhìn ngôi mộ như một công trình đá, ta sẽ thấy ở đó tay nghề của những người thợ.
Nhưng nhìn kỹ hơn, nó còn cho thấy một phần đời sống và thẩm mỹ của xã hội Gò Công đầu thế kỷ XX.
Có những chi tiết rất truyền thống.
Có những hình thức lại cho thấy ảnh hưởng của phương Tây, chẳng hạn cách xử lý đầu cột theo kiểu phối trí phương Tây. Những loại trái cây quen thuộc của vùng đất Nam Bộ cũng được đưa vào trang trí.
Thành ra, ngôi mộ này không hoàn toàn thuộc về một hệ mỹ thuật duy nhất.
Nó là một sự pha trộn.
Truyền thống gặp cái mới.
Phật giáo gặp tín ngưỡng dân gian.
Kiến trúc mộ gặp kiến trúc tháp.
Và mỹ thuật khu vực gặp những ảnh hưởng đang du nhập vào Nam Bộ lúc bấy giờ.
Có lẽ đó cũng là lý do nhìn ngôi mộ này lâu một chút sẽ thấy nó không chỉ đẹp.
Nó có chuyện để kể.
“Sống cái nhà, già cái mồ”
Người xưa có câu “sống cái nhà, già cái mồ”. Nghĩa là lúc sống thì chăm chút cho nhà cửa, về già thì lo chuyện mồ mả. Trong quan niệm truyền thống, nơi an nghỉ của người đã khuất cũng là một phần quan trọng của gia đình và dòng họ.
Bởi vậy, không khó hiểu khi trong lịch sử có những ngôi mộ được xây dựng công phu tới mức trở thành những công trình kiến trúc – mỹ thuật thực sự.
Nhưng với ngôi mộ ở Long Thiền, câu chuyện còn có thêm một lớp khác.
Chủ nhân của nó là bà Dương Thị Hương, một người phụ nữ gắn với gia đình của Trương Công Định và với chùa Long Thiền. Vì vậy, bên cạnh giá trị nghệ thuật, ngôi mộ còn giữ trong nó một phần ký ức lịch sử của Gò Công.
Tôi nghĩ đó mới là điều đáng quý.
Một ngôi mộ có thể đẹp vì đá.
Có thể đặc biệt vì kiến trúc.
Nhưng nếu phía sau những phiến đá ấy còn có một con người, một gia đình, một thời đại và một câu chuyện để kể, thì giá trị của nó sẽ lớn hơn rất nhiều.
Ngày nay, giữa những thay đổi của Gò Công, ngôi mộ vẫn nằm trong khuôn viên chùa Long Thiền.
Đá có thể cũ đi.
Những đường chạm có thể mòn theo thời gian.
Nhưng chỉ cần còn người nhìn thấy, rồi chịu khó hỏi “Ngôi mộ này của ai? Vì sao người xưa lại xây như vậy?”, thì câu chuyện phía sau nó vẫn còn cơ hội được kể lại.
Và đôi khi, một chuyến rong ruổi về quê cũng đáng giá chỉ vì mình tình cờ gặp một thứ trước đây chưa bao giờ nghĩ tới.
Một ngôi mộ.
Rồi đứng trước nó khá lâu.
Và nhận ra mình đang đứng trước một công trình nghệ thuật.
Nguồn: Tổng hợp.

Leave a Reply