Hàng năm, cứ tới tháng Chạp, khi vầng trăng cuối năm tròn dần lên trên những xóm làng Gò Công Tây, thị trấn Vĩnh Bình lại có mấy ngày rộn ràng khác hẳn ngày thường. Trẻ con mặc đồ mới, người lớn ăn mặc tươm tất, nhà nhà dọn dẹp cửa ngõ, chưng mâm ngũ quả rồi cùng nhau ra đình. Có người đi để cúng, có người đi để xem hội, có người chỉ đơn giản là muốn gặp bà con xóm giềng. Nhưng dù đi vì lý do gì, tới những ngày này, người ta đều biết là làng mình đang có hội.
Cái lễ ấy gọi là Kỳ yên, tức lễ Cầu an. Nghe hai chữ Cầu an thì tưởng chỉ là chuyện cầu cho bình yên, nhưng nhìn cách người Vĩnh Bình tổ chức mới thấy trong đó có nhiều thứ hơn. Có đình, có miễu, có chợ, có những vị tiền hiền, hậu hiền, những người có công với làng, có những nghi thức đã truyền qua nhiều thế hệ. Ba ngày lễ giống như một lần người trong làng cùng nhau mở lại ký ức của chính mình.
Vĩnh Bình vốn là vùng đất mà người Việt đến khai phá từ khá sớm. Ngày trước, trên những giồng đất cao giữa vùng sình lầy, rừng rậm, người từ các tỉnh miền ngoài lần lượt tìm tới lập nghiệp. Khoảng nửa sau thế kỷ XVIII, ông Trần Văn Huê cùng hơn bốn mươi người gồm cả nam lẫn nữ tới đây khai hoang. Ông Huê vừa làm ruộng, vừa biết hốt thuốc, lại sống có đức nên được người trong vùng quý mến. Năm 1808, ông cùng dân lập làng Vĩnh Lợi, sửa sang một ngôi miễu có từ trước thành đình làng.
Bảy năm sau, năm 1815, ông Huê lập chợ Vĩnh Lợi. Người dân quen gọi là chợ Giồng. Rồi ông qua đời, cái giồng đất nơi ông từng sinh sống được gọi là Giồng Ông Huê, còn cái chợ cũng mang theo cái tên chợ Giồng Ông Huê. Một con người đi qua đời, nhưng tên tuổi ở lại trên đất. Có khi đó cũng là một trong những cách người xưa nhớ nhau đơn giản nhất: lấy tên người đã có công đặt cho một nơi mình đang sống.
Vùng này sau đó ngày càng đông người Việt tới khai phá. Trong quá trình sống chung với vùng đất mới, họ cũng tiếp nhận nhiều lớp văn hóa khác nhau. Có người theo tín ngưỡng thờ Chúa Ngọc, hay Thánh Mẫu, vốn gắn với ảnh hưởng văn hóa Chàm. Năm 1885, một ngôi miễu thờ Thánh Mẫu Thiên YANA được dựng lên khá lớn, nay nằm trên đường Thiện Chí, thị trấn Vĩnh Bình.
Cũng trong năm 1885, làng có trường học gọi là trường tổng, một trong sáu trường của xứ Gò Công lúc bấy giờ. Một nơi có đình, có miễu, có chợ, có trường thì tự nhiên dân cư cũng tụ về. Chuyện buôn bán đông hơn, chuyện học hành có chỗ hơn, đình đám hội hè cũng rôm rả hơn. Làng không còn chỉ là nơi người ta tới khai phá rồi ở lại. Nó dần trở thành một cộng đồng có đời sống riêng.
Và trong đời sống ấy, lễ Kỳ yên là một ngày rất quan trọng.
Từ ngày 14 tới ngày 16 tháng Chạp, người dân trong vùng cùng nhau về đình. Theo lệ cũ, vì tin Thánh Mẫu linh thiêng nên khi đình tổ chức cúng, linh vị thần được đưa tới miếu Bà để làm lễ, rồi mới cung nghinh trở về đình an vị. Người ta đem xôi, thịt, trà, rượu, bánh trái, có khi cả heo quay tới cúng. Những thứ lễ vật ấy nhìn qua chẳng có gì xa lạ, nhưng gom lại trong một ngày hội làng thì thành một hình ảnh rất đặc trưng của đời sống nông nghiệp Nam Bộ: làm được gì thì góp nấy, nhà có gì ngon thì đem ra cùng nhau.
Rồi hội bắt đầu.
Đẩy cây, nhảy bao bố, bịt mắt đập nồi, bắt vịt trên sông, ngâm thơ, múa lân, ra câu hò, câu đối. Đội lân, đội rồng liên tục biểu diễn. Ban đêm lại có tuồng hát bội. Người trong làng đi ra đình hết lượt này tới lượt khác. Trẻ con có trò chơi của trẻ con, người lớn có chuyện của người lớn. Người tới cúng thì cúng, người tới xem hội thì xem hội. Cái đình lúc ấy không chỉ là nơi thờ thần nữa mà trở thành chỗ gặp nhau của cả làng.
Đó mới là cái hay của lễ hội làng ngày trước.
Nó không chia người ta thành người đi lễ và người đi chơi quá rạch ròi. Cúng bái và vui chơi nằm cạnh nhau. Tâm linh và đời sống đi chung một đường. Người ta vừa cầu bình an, vừa gặp bà con, vừa coi múa lân, vừa nghe hát bội, vừa ăn uống, trò chuyện. Một năm làm lụng vất vả, có mấy ngày được cùng nhau ra đình, vậy cũng là một niềm vui.
Nhưng Vĩnh Bình cũng từng đi qua những năm tháng không bình yên.
Năm Giáp Thìn 1904, vùng Gò Công chịu một trận bão lớn, rồi sau đó là dịch bệnh. Người chết nhiều, nỗi sợ còn đọng lại trong ký ức dân gian nhiều năm. Người làng lập đàn tràng để cầu an, dựng bài vị Đức Thánh Trần Hưng Đạo với niềm tin xua đuổi âm binh, cô hồn quấy phá. Từ những biến cố như vậy, các nghi thức trong lễ Kỳ yên cũng mang thêm những lớp ý nghĩa mới.
Vì thờ vua, đình Vĩnh Bình có một nét khá đặc biệt là hàng năm vào lễ Kỳ yên tổ chức múa rồng, phù hợp với tước vị của vị thần được thờ. Một con rồng trong ngày hội vì vậy không chỉ để cho đẹp, cho vui. Nó còn nằm trong cách người xưa biểu đạt lòng kính trọng đối với bậc được phụng thờ.
Đình ngày nay không còn nguyên ngôi đình cũ. Năm 1995, với sự đóng góp của người dân, các nhà hảo tâm và chính quyền địa phương, một ngôi đình mới được xây dựng ở ấp Đông, lấy mẫu đền thờ Trương Định làm cơ sở rồi bổ sung thêm một số chi tiết để tạo vẻ cổ kính.
Nhưng cái đáng giữ của một ngôi đình đâu chỉ nằm ở bức tường hay mái ngói.
Nó nằm trong cái cách người dân vẫn tìm về đó mỗi năm.
Những ngày Kỳ yên, đường phố Vĩnh Bình lại nhộn nhịp. Nhà nhà dọn dẹp, chưng mâm ngũ quả để đón “sắc thần”. Từ chiều ngày 14 tháng Chạp, đội lân rồng cung thỉnh “Bàn các ấp” về đình. Đây là một nghi thức lâu đời, nhằm cung thỉnh những vị được thờ tại các miễu và tưởng niệm những bậc tiền bối có công với địa phương.
Trên những mâm lễ, sản vật nông nghiệp được sắp đặt bằng đôi tay khéo léo của người dân thành hình tứ linh. Nhìn những thứ được làm ra từ sản vật quen thuộc của ruộng vườn mà thành hình rồng, lân, quy, phụng, mới thấy người quê mình ngày trước cũng khéo tay và có óc thẩm mỹ lắm. Cái đẹp không nhất thiết phải bắt đầu từ vật quý. Nhiều khi nó bắt đầu từ những thứ mình làm ra được mỗi ngày.
Ngày 15 là những lễ cúng Tiền hiền, Hậu hiền, tưởng niệm những người có công với làng, những anh hùng liệt sĩ, rồi tới lễ tế thần. Ngày 16, dân làng tiếp tục đem thịt, xôi, bánh, trái tới dâng lễ. Khách thập phương cũng tới cúng và xem hội.
Đến tối, khi trăng mười sáu dần lên, đội rồng đi quanh chợ, chúc cho người người làm ăn phát đạt, nhà nhà an khang. Rồi tới nửa đêm là lễ tống gió. Những chiếc tàu làm bằng giấy kiếng, trang trí cầu kỳ, có thắp đèn cầy, được thả trôi theo dòng nước cùng những nghi thức cầu mong đem cái xui, cái gió độc ra biển.
Một chiếc tàu giấy trôi trên sông.
Nhìn vậy thôi mà trong đó có cả một cách người xưa đối diện với cuộc sống. Không ai biết năm tới sẽ ra sao. Mưa có thuận không, mùa màng có được không, dịch bệnh có trở lại không, gia đình có bình an không. Không biết thì người ta cầu. Cầu rồi lại làm ăn, lại cày ruộng, lại buôn bán, lại nuôi con. Đó là cách người nông dân đi qua những điều mình không thể kiểm soát.
Ngày nay, lễ hội Kỳ yên ở Vĩnh Bình còn gắn với hội xuân, diễn ra trong những ngày trước Tết. Có trò chơi, thi múa mâm vàng, hội diễn lân rồng, các cuộc thi tìm hiểu về nhà nông, pháp luật, giao thông, văn hóa, ẩm thực Nam Bộ. Hoa kiểng, bonsai, hòn non bộ, sản phẩm địa phương và những thành tựu kinh tế – văn hóa cũng được trưng bày. Ban đêm có các chương trình nghệ thuật, thu hút người dân trong vùng và khách từ nơi khác tới.
Hội đã có thêm nhiều thứ mới, nhưng cái gốc của nó vẫn vậy.
Người ta gặp nhau.
Người ta nhớ người xưa.
Người ta cầu cho năm mới bình an.
Và người ta vui với nhau một chút sau một năm làm ăn.
Có lẽ đó mới là lý do những lễ hội như Kỳ yên có thể tồn tại lâu đến vậy. Nó không chỉ là một nghi lễ tôn giáo hay tín ngưỡng. Nó là một ngày mà cả cộng đồng cùng nhớ mình là ai, mình từ đâu tới và ai đã góp công để có được cái làng này.
Từ ông Trần Văn Huê khai phá đất, lập làng, lập chợ, tới những người dân đời sau tiếp tục dựng đình, dựng miễu, mở trường, làm ruộng, buôn bán; mỗi thế hệ thêm vào một chút. Làng Vĩnh Bình vì vậy không chỉ được tạo nên bằng đất.
Nó được tạo nên bằng ký ức.
Mỗi năm, tới tháng Chạp, trăng lại tròn. Người già đi chậm hơn, trẻ con thì lớn thêm một tuổi. Có những người năm trước còn đi hội, năm nay không còn nữa. Có những đứa nhỏ ngày xưa chạy quanh sân đình, bây giờ đã đưa con mình về dự lễ.
Đời người thay đổi, nhưng đình làng vẫn còn một ngày để mọi người tìm về.
Và có lẽ, trong một vùng đất đã đi qua bao nhiêu mùa mưa nắng như Gò Công, cái quý nhất của lễ Kỳ yên không phải là hội có bao nhiêu trò vui, hay lễ vật có bao nhiêu món.
Mà là mỗi năm, người ta vẫn còn muốn trở về.
Trở về đình.
Trở về với làng.
Và trở về với cái ký ức chung mà ông bà mình đã để lại trên mảnh đất này.
xem thêm Ảnh Lễ hội Kỳ yên 2026
Nguồn: Tổng hợp.

Leave a Reply