Thư viện số lưu giữ vẻ đẹp, văn hóa, lịch sử và con người Gò Công
LỊCH SỬ - VĂN HÓA

Gò Công Xưa – Chưởng Cơ Mai Tấn Huệ

Lịch sử - Văn hóa September 19, 2026 15 lượt xem

Chưởng cơ Mai Tấn Huệ — người mở đất Bình Luông Tây

Gò Công vốn không phải một vùng đất quá trù phú, nhưng qua bao đời vẫn nuôi sống được người dân và sản sinh ra không ít nhân tài. Có người để lại tên tuổi trong chiến trận, có người được nhắc đến vì công việc triều đình, cũng có người để lại dấu vết rất cụ thể trên chính mảnh đất mình từng sống. Chưởng cơ Mai Tấn Huệ thuộc về nhóm sau. Ông là một võ tướng từng theo Võ Tánh, từng xông pha trận mạc, nhưng điều khiến người Gò Công còn nhớ đến ông lâu hơn lại không chỉ nằm ở những chiến công. Ông còn góp công mở mang vùng Bình Luông Tây, dạy võ cho con em trong làng và đắp một con đập ngang ngọn Rạch Dà, để rồi người đời sau quen gọi là Đập Ông Chưởng.

Thuở chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần chạy vào Gia Định, miền Nam trở thành một vùng đất đầy biến động. Tây Sơn và Nguyễn vương tranh hùng, chiến trận nối tiếp nhau, nhưng chính trong hoàn cảnh ấy nhiều anh hùng hào kiệt ở Đồng Nai và Gia Định có cơ hội xuất đầu lộ diện. Những cái tên như Đỗ Thành Nhân, Võ Tánh, Châu Văn Tiếp, Nguyễn Huỳnh Đức, Trương Tấn Bửu, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Nhơn… mỗi người một tài, một hoàn cảnh, một con đường. Nếu xét về công trạng quân sự thì ai cũng có phần đáng kể; nhưng nếu nhìn thêm ở chuyện trực tiếp giúp dân, mở đất, giữ làng, thì Mai Tấn Huệ là một nhân vật đáng được nhắc riêng.

Quê ông ở Giồng Lăng, làng Bình Luông Tây, tỉnh Gò Công, nay thuộc địa phận làng Tân Cương. Ngày trước, Bình Luông Tây là một vùng rất rộng, bao trùm cả Bình Luông Đông, Bình Luông Trung, Long Thạnh, một nửa Long Hựu và một nửa Tân Cương ngày nay. Ông theo nghiệp võ từ thuở trẻ, tài nghệ nổi tiếng xa gần. Khi Võ Tánh rời mười tám thôn vườn trầu xuống Giồng Tre, tức Khổng Tước Nguyên, vùng đất Gò Công ngày nay, Mai Tấn Huệ theo làm bộ tướng. Đó là đạo quân Đông Sơn, lực lượng chống Tây Sơn.

Đạo quân Đông Sơn ngày càng lớn mạnh, một phần nhờ công Mai Tấn Huệ khéo chiêu mộ và tổ chức quân lính có quy củ. Trong thời gian theo Võ Tánh, ông nhiều lần xông pha trận mạc, đương đầu với Tây Sơn và cả quân Chân Lạp. Hai người khi ấy không chỉ có quan hệ chủ tướng và thuộc tướng, mà còn được mô tả là tình nghĩa như anh em, cùng sống chết trong những lúc hoạn nạn. Chính từ những năm tháng ấy mà tên tuổi Mai Tấn Huệ bắt đầu nổi lên.

Sau đó, Chúa Nguyễn Phúc Ánh sai Nguyễn Đức Xuyên đến chiêu dụ. Võ Tánh thuận theo, còn Mai Tấn Huệ tiếp tục con đường binh nghiệp của mình. Đến khi Võ Tánh tử tiết trong thành Bình Định, ông cùng Nguyễn Văn Tấn đứng ra cai quản phần binh tàn. Đây mới là lúc tài năng của Mai Tấn Huệ được thể hiện rõ hơn. Từ một thuộc tướng của Võ Tánh, ông trở thành một vị danh tướng có khả năng tự mình điều binh khiển tướng. Chúa Nguyễn ngày càng tín nhiệm, trọng dụng và ban thưởng hậu. Đáp lại sự tin dùng ấy, ông tiếp tục đem sức mình ra phục vụ.

Khi lấy lại Quy Nhơn, Chúa Nguyễn phong ông làm quan Lưu thủ tại đây. Ông tiếp tục lập công trong việc dẹp giặc cướp ở Cây Na, đánh giặc Tàu Ô ở cửa biển Kim Bồng và dẹp giặc Mán ở Quảng Ngãi. Những công việc ấy nghe qua toàn là chuyện đánh dẹp, nhưng phía sau mỗi trận đánh lại là chuyện giữ đất và giữ cho dân được sống yên. Nơi nào ông đưa quân đến, quân luật được giữ nghiêm, thuộc hạ không dám nhũng nhiễu dân chúng. Vì vậy, bên cạnh danh tiếng của một võ tướng, ông còn được dân chúng mến tưởng vì sự che chở và việc giữ an ninh.

Trong công cuộc xây đắp Hoàng thành Phú Xuân, ông cũng được Chúa Nguyễn giao cho việc coi sóc. Khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, việc luận công ban thưởng sau quá trình thống nhất đất nước cũng đưa Mai Tấn Huệ lên một vị trí quan trọng: ông được giao trọng trách trấn giữ thành Bình Định. Đến năm Ất Sửu 1805, ông được phong Chưởng cơ. Những khi trong nước có giặc cướp hay biến loạn, nhà vua thường giao cho ông đi đánh dẹp và theo tư liệu, ông đều hoàn thành nhiệm vụ.

Nhưng có lẽ điều đáng nói nhất về Mai Tấn Huệ lại bắt đầu từ lúc ông đã lớn tuổi. Khi về già, ông dâng biểu xin cáo quan quy điền. Nhà vua tiếc một vị tướng giỏi, ban ngự tửu và dặn rằng nếu một mai nước nhà có việc, ông hãy vì xã tắc mà ra sức như thuở ban đầu. Ngày ông về quê, các quan vâng chỉ đưa tiễn hơn trăm dặm. Chỉ riêng chuyện ấy cũng đủ cho thấy ông được triều đình coi trọng đến mức nào.

Về ở ấp Bình Hòa, thuộc làng Bình Luông Tây, Mai Tấn Huệ không phải nghỉ ngơi hoàn toàn. Ông mở trường dạy võ, đào luyện con em trong làng để khi có biến có thể bảo vệ thôn ấp, đồng thời chuẩn bị nhân tài để lúc đất nước cần thì có người ra giúp nước. Học trò từ nhiều nơi tìm đến thọ giáo. Một vị tướng từng đi qua chiến trường, đến cuối đời lại ngồi dạy võ cho con em trong làng. Cái chuyển từ đánh giặc sang dạy người này nghe tưởng như hai chuyện khác nhau, nhưng thật ra lại cùng chung một ý: làm sao để vùng đất mình sống có người đủ sức bảo vệ nó khi cần.

Rồi ông cùng dân chúng phá rừng mở ruộng. Trong công việc ấy, ông cho đắp một con đập ngang ngọn Rạch Dà. Con đập ấy lưu truyền đến ngày nay với cái tên rất dân dã: Đập Ông Chưởng. Không có một tấm bảng lớn ghi đủ chức tước, cũng chẳng cần một câu văn hoa, chỉ ba chữ “Đập Ông Chưởng” là người dân đã biết nơi ấy gắn với một con người nào. Có lẽ đó cũng là một cách lưu danh khá đặc biệt. Một vị tướng có thể được nhớ qua chiến công, nhưng một người giúp dân khai phá đất, giữ nước, làm ruộng thì đôi khi lại được nhớ bằng chính con đập nằm trên dòng rạch quê nhà.

Khi Mai Tấn Huệ qua đời, triều đình phái quan đem vào ban cho ông một hộc mả đá ong và một tấm mộ chí. Mộ ông hiện còn ở Bình Luông Tây, ấp Bình Hòa; bên cạnh có miếu thờ cất bằng lá. Đến năm Quý Tỵ 1943, Hội đồng xã Bình Luông Tây đệ đơn xin phép lập một hội gọi là Long An Hội để lo việc thờ phụng ông.

Đi qua câu chuyện Mai Tấn Huệ, tôi thấy cái tên của một vị tướng đôi khi không nằm ở nơi người ta tưởng. Ông từng theo Võ Tánh đánh trận, từng trấn giữ thành Bình Định, từng được vua trọng dụng và phong Chưởng cơ. Nhưng ở quê nhà, người ta lại gọi một con đập là “Đập Ông Chưởng”, vẫn còn mộ, còn miếu và còn hội lo việc thờ phụng. Chiến công có thể nằm trong sách sử, còn công lao với một vùng đất thì nhiều khi nằm ngay trên mặt đất, trong dòng nước và trong ký ức của người dân.

Có những người để lại một cái tên trên bia đá. Có người để lại một ngôi miếu. Còn Mai Tấn Huệ để lại cả một con đập giữa vùng Bình Luông Tây. Đập Ông Chưởng nghe mộc mạc vậy thôi, nhưng có lẽ đó mới là kiểu bia đá bền nhất: người đời vẫn còn gọi tên mình mỗi khi đi ngang qua quê cũ.

Nguồn: Tổng hợp.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

403Bài viết
6.385Hình ảnh
12Hạng mục
51Tư liệu lịch sử
16Nhân vật